8/24/19

Vận đơn Surrendered B/L & Telex release / Bài 13

Surrendered B/L & Telex release – Nhận hàng không cần B/L gốc


Surrendered B/L là vận đơn thông thường được người chuyên chở hoặc đại lý đóng thêm dấu “SURRENDERED – ĐÃ XUẤT TRÌNH” với ý nghĩa “bản gốc đã được nộp lại, đã được thu hồi hoặc không có bản gốc". Surrendered B/L không có giá trị để giao dịch chuyển nhượng trên thị trường.

Thông thường muốn nhận hàng, Consignee phải xuất trình vận đơn gốc tại cảng đến. Nhưng trong thực tế có nhiều trường hợp hàng đã đến mà vận đơn gốc chưa đến nước nhập khẩu, do đó không thể xuất trình B/L gốc để nhận hàng. Để khắc phục tình trạng trên và để tiết kiệm chi phí gửi vận đơn gốc người ta dùng một loại vận đơn gọi là vận đơn “đã xuất trình tại cảng gửi” cho lô hàng đồng thời thông báo “Telex Release – Điện giao hàng” bằng hình thức email cho đại lý tại cảng đến biết để đại lý giao hàng cho Consignee mà không cần người nhận hàng xuất trình vận đơn gốc.

Trong khi với B/L thông thường nhất thiết phải cần đến Original B/L được gửi chuyển phát nhanh với chi phí cao thì với Surrendered B/L người nhận hàng chỉ cần xuất trình bản sao vận đơn có dòng chữ “Surrendered” do người gửi hàng gửi qua email.

1. Quy trình thực hiện Surrendered B/L

Tình huống 1 – không chủ động:

Người nhận hàng không lường trước được việc người gửi hàng chậm chuẩn bị bộ chứng từ, chậm gửi bộ chứng từ cho mình (trong đó có B/L gốc). Người nhận hàng không muốn dùng B/L gốc để nhận hàng nữa mà muốn sử dụng Surrendered B/L.
Surrendered-Bill

(1) Người gửi hàng giao hàng cho người vận tải: Người vận tải cấp cho người hàng B/L gốc
(2) Hàng được vận tải đến cảng dỡ sớm hơn B/L gốc được gửi đến người nhận hàng: Người nhận  hàng yêu cầu người gửi hàng thực hiện Surrendered B/L
(3) Người gửi hàng trả lại B/L gốc cho người vận tải; Người vận tải thực hiện Surrendered B/L gốc
(4) Người vận tải truyền thông báo cho đại lý tại cảng dỡ về việc sử dụng Surrendered B/L bằng Telex Release
(5) Người nhận hàng xuất trình Thông báo hàng đến và Giấy giới thiệu cho đại lý hãng tàu
(6) Đại lý hãng tàu đồng ý giao hàng cho người nhận hàng.

Tình huống 2 – Chủ động:

Hai bên đã biết trước được việc người gửi hàng sẽ chậm gửi bộ chứng từ (trong đó có B/L gốc) và hàng sẽ đến sớm hơn chứng từ do vậy chủ động sử dụng Surrendered B/L ngay từ đầu mà không yêu cầu hãng tàu phát hành B/L gốc nữa.
Surrendered-bill

(1) Người gửi hàng giao hàng cho người vận tải
(2) Người vận tải cấp cho người gửi hàng B/L có ghi SURRENDERED
(3) Người gửi hàng gửi Surrendered B/L cho người nhận hàng qua email (dạng file đính kèm)
(4) Người vận tải truyền dữ liệu lô hàng và thông báo cho đại lý tại cảng dỡ về việc lô hàng này sử dụng Surrendered B/L
(5) Đại lý hãng tàu tại cảng dỡ gửi thông báo hàng đến cho người nhận hàng để công ty này chuẩn bị các thủ tục cần thiết để nhận hàng
(6) Người nhận hàng in B/L nhận được qua email từ người gửi hàng, xuất trình tờ Surrendered B/L đó cho đại lý hãng tàu
(7) Đại lý hãng tàu đồng ý giao hàng cho người nhận hàng.

2. Rủi ro khi sử dụng Surrendered B/L

- Rủi ro đối với Shipper

Khi áp dụng hình thức Surrendered B/L nếu trên đường vận chuyển có rủi ro đối với hàng hóa thì Shipper không có chứng từ hợp lệ và tính pháp lý để đòi bồi thường (Shipper không có B/L gốc), đồng thời Consignee không thể nhận hàng nên sẽ không thanh toán cho Shipper.

- Rủi ro đối với Consignee

Trong một số trường hợp Consignee cầm bản copy B/L, nếu gặp rủi ro có thể sẽ không nhận được hàng.

3. Các trường hợp nên áp dụng Surrendered B/L

- Shipper và Consignee là công ty mẹ và công ty con

Shipper sẽ tiết kiệm được chi phí gửi chứng từ gốc cũng như chi phí ký phát vận gốc cao hơn ký phát Surrendered B/L và khắc phục được tình trạng hàng tới mà vận đơn chưa tới.

- Shipper và Consignee thực hiện hợp đồng gia công

Với hình thức gia công, chứng từ vận tải thường được áp dụng Surrendered B/L vì việc giao nhận hàng không mang tính buôn bán như hợp đồng ngoại thương.

- Shipper và Consignee thỏa thuận không cần B/L gốc

Dung Surrendered B/L trong các trường hợp nhận hàng không cần xuất trình B/L gốc tại cảng đến vì một số lý do như thời gian hành trình vận chuyển ngắn nên việc chuẩn bị chứng từ không kịp hoặc do thỏa thuận giữa người mua và người bán về việc nhận hàng thuận lợi tại cảng đến không cần xuất trình B/L gốc.

4. Các trường hợp không áp dụng Surrendered B/L

- Thương vụ đầu tiên

Không nên sử dụng hình thức Surrendered B/L trong thương vụ đầu tiên mà nên sử dụng Original B/L để tránh rủi ro bị bên bán lừa đảo.

- Thương vụ thanh toán bằng L/C

Nếu sử dụng phương thức thanh toán là tín dụng chứng từ thì không thể sử dụng Surrendered B/L vì hãng tàu sẽ không ký phát vận đơn gốc nào khi sử dụng hình thức Surrendered B/L trogn khi phương thức tín dụng chứng từ đòi hỏi phải có B/L gốc để xuất trình tới ngân hàng phát hành.

Đọc tiếp »

8/16/19

Mua bán ba bên và quy trình thay đổi vận đơn - Switch B/L /Bài 12

Mua bán ba bên và quy trình thay đổi vận đơn - Switch B/L


1. Lý do cần phải Switch B/L

Switch B/L là vận đơn cho phép thay đổi một số nội dung trên đó theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan.

Switch B/L bao gồm bất kỳ sự thay đổi nào trên bộ vận đơn gốc (Original B/L). Dạng đơn giản nhất có thể chỉ là thay đổi một chi tiết nhỏ trên cả mẫu vận đơn, như: tên người gửi hàng, người nhận hàng hoặc có thể thay đổi nhiều mục như: tên hàng, số lượng, cảng xếp, cảng dỡ, …

Để cụ thể hóa việc Switch B/L bạn tham khỏa ví dụ cụ thể khi người trung gian không muốn người mua biết được các thông tin về người bán:
- A: Người bán ở Ấn Độ là nhà sản xuất và bán cho người trung gian
- B: Người trung gian ở Việt Nam mua hàng và bán lại
- C: Người mua ở Mỹ là người nhận hàng

Hàng được vận chuyển trực tiếp từ nơi sản xuất (Ấn Độ) tới nơi tiêu dùng
(Mỹ) và nhà trung gian muốn tránh cho người mua ở Mỹ biết được nhà sản xuất thực sự của lô hàng đề phòng việc người mua hàng cuối cùng sẽ liên hệ với nhà sản xuất để mua hàng trực tiếp.

2. Incoterms và phương thức thanh toán khi làm Switch B/L

Muốn làm Switch B/L quan trọng nhất là chọn đúng điều kiện Incoterms nào và phương thức thanh toán thế nào để khi bạn là công ty trung gian có thể chủ động trong vấn đề thực hiện Switch B/L.
- Công ty trung gian phải luôn luôn giành quyền book tàu. Để làm được việc này thì hợp đồng được ký giữa A với B phải sử dụng nhóm F (phổ biến là FOB) và giữa A với C phải sử dụng nhóm C (phổ biến là CIF, CNF).
- Luôn luôn book tàu qua Forwarder (không book trực tiếp với hãng tàu) để đề nghị Forwarder làm Switch bill dễ dàng hơn.
- Nên lựa chọn phương thức thanh toán càng đơn giản càng tốt. Cả hai hợp đồng giữa A với B và giữa A với C đều thanh toán bằng T/T hoặc hợp đồng giữa A với B thanh toán bằng L/C và hợp đồng giữa A và C thanh toán bằng T/T.

3. Quy trình thực hiện Switch B/L

(1) Vận đơn 1 (vận đơn ảo):

Sau khi ký hợp đồng mua bán với cả B và C, người trung gian A yêu cầu người bán B ở Ấn Độ giao hàng và chỉ định Forwarder phát hành B/L cho B với thông tin như sau:
- Shipper: Người bán A
- Consignee: ngân hàng phát hành L/C cho B (L/C cần ghi chú chập nhận House Bill)
- Cảng bốc hàng: Ấn Độ
- Cảng dỡ hàng: Việt Nam

Vì người trung gian book tàu qua công ty Forwarder lấy HBL do đó mặc dù có Bill, có tên tàu nhưng thực tế hàng không được vận tải về Việt Nam. Bill này gần như là Bill ảo để người bán A  nghĩ rằng hàng được chuyển về Việt Nam.

(2) Vận đơn 2 (được Switch từ vận đơn 1)

Sau khi vận đơn 1 được phát hành và A đã giao hàng cho B tại cảng Ấn Độ. Người trung gian B tiến hành thanh toán cho người bán A và lấy đầy đủ bộ chứng từ giao hàng.
Lúc này lô hàng thuộc quyền sở hữu của B, người trung gian B yêu cầu Forwarder tiến hành Switch B/L, tức là hủy Bill 1 (Bill ảo) đi và phát hành Bill mới (Bill thật) với thông tin sau:
- Shipper: Người trung gian B
- Consignee: Người mua C
- Cảng bốc hàng: Ấn Độ
- Cảng dỡ hàng: Mỹ
- Mô tả hàng không thay đổi (có thay đổi nếu cần)

Khi đã có Switch B/L theo yêu cầu, người trung gian tập hợp bộ chứng từ giao hàng mới (với các thông tin phù hợp với hợp đồng giữa B và C) gửi cho C để người mua C có thể nhận hàng tại cảng đến ở Mỹ.

Đọc tiếp »

8/13/19

C/O form E theo TT12/2019/TT-BCT

C/O form E theo TT12/2019/TT-BCT 


Theo TT12/2019/TT-BCT ngày 30/7/2019, từ 12/9/2019 các mẫu C/O form E cũ sẽ không được sử dụng.

Mọi người tải Phụ lục, Thông tư tại đây.
Đọc tiếp »

House Bill, Master Bill – Vận đơn nhà, Vận đơn chủ / Bài 10

House Bill, Master Bill – Vận đơn nhà, Vận đơn chủ


master-bill-house-bill

House Bill of Lading – HBL là vận đơn do Forwarder phát hành cho Shipper là người gửi hàng thực tế (real shipper) và người nhận hàng thực tế (real consignee). Cánh nhận diện House Bill là do công ty trung gian Fwd phát hành và có in  hình logo của Fwd.

Master Bill of Lading – MBL là vận đơn do người sở hữu phương tiện vận chuyển (hãng tàu) cấp cho người đứng tên trên bill với tư cách là chủ hàng (Shipper). Cách nhận diện Master Bill là trên vận đơn có thông tin hãng tàu như Logo, tên công ty, số điện thoại, văn phòng hãng tàu.

1. Tại sao lại phát hành HBL và MBL

Thông thường trong nghiệp vụ vận tải quốc tế bên bán hoặc bên mua có 2 cách để đặt booking cho một lô hàng xuất nhập khẩu:
(1) Book trực tiếp hãng tàu: Bạn sẽ trả mọi chi phí cho hãng tàu như cước tàu, phí Local charge, …
(2) Book qua Fwd: Bạn trả mọi chi phí cho Fwd sau đó Fwd sẽ trả lại hãng tàu và giữ một phần lợi nhuận từ việc làm trung gian book tàu cho bạn.

 Vì lý do bạn có thể book tàu với hãng tàu và công ty Fwd cũng có quyền book tàu với hãng tàu. Do đó trên Bill do hãng tàu cấp xảy ra 2 trường hợp về người đứng tên trong ô Shipper và Consignee.
- Shipper là người thực tế xuất khẩu (Real Shipper), Consignee là người nhập khẩu thực tế (Real Consignee). Trường hợp này không phát sinh HBL mà lô hàng chỉ có một bộ Bill duy nhất do hãng tàu cấp.
- Shipper là bên trung gian (Forwarder), Consignee là đại lý của Fwd tại cảng đến (Forwarding Agent). Trường hợp này phát sinh House Bill do Fwd cấp cho Real Shipper nên lô hàng có 2 bộ Bill; Mbl do hãng tàu cấp cho Fwd và HBL do Fwd cấp cho người gửi hàng thực tế.

2. So sánh Master Bill và House Bill

(1) Xét về hình thức
- MBL có hình logo hãng tàu, còn HBL in logo của công ty Fwd.
- MBL chỉ có một dấu và một chữ ký còn HBL có thể có 2 dấu, 2 chữ ký (chữ ký và dấu của người gom hàng và của người vận chuyển).
- Trên MBL ghi cảng đến (Port) còn trên HBL ghi nơi nhận hàng (Place).

(2) Xét về tính dễ dàng chỉnh sửa Bill gốc
- Làm HBL dễ chỉnh sửa hơn so với MBL.

(3) Xét về rủi ro cho người chủ hàng
- Làm HBL rủi ro nhiều hơn làm MBL và khi làm MBL người gửi hàng có thể lấy bill gốc đến kiện hãng tàu khi xảy ra rủi ro còn làm HBL thì bạn chỉ có thể cầm bill gốc này đến Fwd kiện, các công ty Fwd nhỏ sẽ dễ dàng trốn tránh trách nhiệm.
- MBL là điều chỉnh mối quan hệ người vận chuyển thực tế (người có tàu) và người đặt chỗ trên tàu (có thể là công ty Fwd hoặc người xuất khẩu thực tế). Trong khi HBL chỉ điều chỉnh mối quan hệ của người chủ hàng (Real shipper) va người trung gian (Fwd).
- Khi phát hành vận đơn, MBL sẽ chịu quy tác động của quy tắc Hague, Hamburg, … còn HBL thì không.

3. Quy trình giao nhận với MBL và HBL

quy-trình-giao-nhận-với-mbll-va-hbl

(1) Người bán giao hàng cho Fwd
(2) Fwd giao hàng cho hãng tàu
(3) Hãng tàu phát hành MBL cho Fwd; Fwd gửi MBL này cho đại lý của mình ở cảng đến
(4) Fwd phát hành HBL cho người bán; Người bán gửi HBL này cho người mua của mình
(5) Đại lý của Fwd ở cảng đến xuất trình MBL cho đại lý hãng tàu
(6) Đại lý hãng tàu đồng ý giao hàng bằng cách cấp D/O cho đại lý của Fwd (còn gọi là Master D/O)
(7) Người mua xuất trình HBL cho đại lý của Fwd
(8) Đại lý của Fwd đồng ý giao hàng bằng cách cấp D/O cho người mua (còn gọi là House D/o).

Đọc tiếp »

8/8/19

Endorse là gì? Ký hậu chuyển nhượng B/L như thế nào? / Bài 9

Endorse là gì? Ký hậu chuyển nhượng B/L như thế nào?


Ký hậu B/L là việc chủ hàng ký vào phía sau vận đơn gốc, nhằm mục đích chuyển quyền sở hữu đối với lô hàng liên quan.

Ký hậu chỉ áp dụng cho vận đơn đường biển, do Airway Bill không có chức năng chứng từ sở hữu, nên không có nghiệp vụ ký hậu đi kèm. Nghiệp vụ ký hậu phải thực hiện trên vận đơn gốc (Original), loại vận đơn theo lệnh (To Order Bill of Lading), và chủ hàng phải thực hiện ký đóng dấu và mặt sau vận đơn. Tùy vào mục đích cụ thể của việc ký hậu mà có một số cách ký hậu như sau:

1. Ký hậu đích danh

Người ký hậu sẽ ký và đóng dấu vào mặt sau của vận đơn trong đó có ghi đích danh tên của người được hưởng lợi và có thể ghi chú “Delivery to …- Giao hàng cho …”. Như vậy sau khi ký hậu thì vận đơn này trở thành vận đơn đích danh.

Trong trường hợp người ký hậu vận đơn lại chính là người hưởng lợi cuối cùng hay nói cách khác là người đi nhận lô hàng đó thì chỉ cần ký và đóng dấu là có thể cầm vận đơn đi lấy hàng, nếu cẩn thận hơn ta có thể ghi thêm câu “Delivery to myself – Giao hàng cho chính tôi”.

2. Ký hậu theo lệnh

Với kiểu ký hậu này “To order of … - Giao hàng theo lệnh của …” thì người được hưởng lợi lại tiếp tục được phép chuyển nhượng vận đơn cho người tiếp theo bằng cách ký hậu thêm một lần nữa ở mặt sau của vận đơn. Trong trường hợp không chuyển nhượng trực tiếp thì người được hưởng lợi sẽ cầm vận đơn đi lấy hàng như là người hưởng lợi cuối cùng.

3. Ký hậu để trống

Tương ứng với loai vận đơn ký hậu để trống, người ký hậu chỉ ký và đóng dấu mà không ghi câu lệnh kèm theo. Việc ký hậu này cho phép bất kỳ người nào nắm giữ vận đơn đều có quyền sở hữu đối với hàng hóa ghi trên vận đơn do đó loại này không thông dụng.

Đọc tiếp »